Trong quá trình triển khai dự án đầu tư tại Việt Nam, tiến độ thực hiện dự án và thời hạn hoạt động của dự án là hai nội dung quan trọng được xác định ngay từ giai đoạn cấp phép. Các nội dung này thường được ghi nhận trong quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và là cơ sở để cơ quan nhà nước theo dõi, giám sát việc thực hiện dự án của nhà đầu tư.
Việc không triển khai dự án theo tiến độ đã đăng ký hoặc không quản lý phù hợp thời hạn hoạt động của dự án có thể dẫn đến nhiều hệ quả pháp lý đáng kể. Do đó, nhà đầu tư cần nắm rõ các quy định của pháp luật liên quan đến tiến độ thực hiện dự án, thời hạn hoạt động của dự án và cơ chế điều chỉnh các nội dung này trong quá trình triển khai dự án tại Việt Nam.
1. Thời hạn hoạt động, tiến độ thực hiện của dự án đầu tư
Điều 31 Luật Đầu tư năm 2025 quy định về thời hạn hoạt động, tiến độ thực hiện của dự án đầu tư như sau:
“1. Thời hạn hoạt động của dự án đầu tư trong khu kinh tế không quá 70 năm.
2. Thời hạn hoạt động của dự án đầu tư ngoài khu kinh tế không quá 50 năm. Dự án đầu tư thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn hoặc dự án đầu tư có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm; dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghệ cao, khu công nghiệp công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung; dự án thuộc diện ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt quy định tại khoản 2 Điều 17 của Luật này thì thời hạn hoạt động của dự án đầu tư có thể dài hơn nhưng không quá 70 năm.
3. Trường hợp tiến độ, thời hạn hoạt động của dự án bị ảnh hưởng trong các trường hợp quy định tại các khoản a, b, c, d và g khoản 4 Điều 33 của Luật này thì thời gian bị chậm đó không tính vào thời hạn hoạt động, tiến độ thực hiện của dự án đầu tư.
4. Trong quá trình thực hiện dự án đầu tư, nhà đầu tư được điều chỉnh tăng hoặc giảm thời hạn hoạt động của dự án đầu tư. Thời hạn hoạt động của dự án đầu tư sau khi điều chỉnh không được vượt quá thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
5. Khi hết thời hạn hoạt động của dự án đầu tư mà nhà đầu tư có nhu cầu tiếp tục thực hiện dự án đầu tư và đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật thì được xem xét gia hạn thời hạn hoạt động, trừ các dự án đầu tư sau đây:
a) Dự án đầu tư sử dụng công nghệ lạc hậu, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, thâm dụng tài nguyên;
b) Dự án đầu tư thuộc trường hợp nhà đầu tư phải chuyển giao không bồi hoàn tài sản cho Nhà nước Việt Nam hoặc bên Việt Nam.
Thời gian mỗi lần gia hạn tối đa không quá thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.
Như vậy, Luật Đầu tư năm 2025 đã quy định rõ về thời hạn hoạt động và tiến độ thực hiện của dự án đầu tư, tạo cơ sở pháp lý để nhà đầu tư chủ động hơn trong quá trình triển khai và khai thác dự án tại Việt Nam.

